Chăn nuôi Việt Nam phụ thuộc nhiều nguồn giống ngoại


Thursday, 20 November 2014

Mặc dù là nước nông nghiệp, mỗi năm Việt Nam vẫn phải bỏ ra số tiền đáng kể để nhập khẩu (NK) các loại con giống chăn nuôi như lợn, gà, bò… làm gia tăng chi phí sản xuất, dẫn đến những thiệt hại lớn cho nông dân lẫn doanh nghiệp (DN).

 

90% là giống ngoại

Ngành chăn nuôi lợn của Việt nam hiện nay sử dụng nguồn giống lợn ngoại là chủ yếu (chiếm 74% trong tổng đàn lợn), tỷ lệ giống lợn nội và lợn nội lai chỉ chiếm khoảng 7%.

Tới 90% giống gà ở Việt Nam là gà ngoại nhập. Ảnh: Internet

Theo báo cáo của Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT), trong 8 tháng đầu năm, Việt Nam đã chi khoảng 1,52 triệu USD cho NK 1.686 con lợn giống, tăng 89% so với cùng kỳ năm 2013. Giá NK lợn giống trung bình khoảng 899 USD/con.

Cũng trong hoàn cảnh “dựa dẫm” vào NK, đối với gà, hiện nay, có tới trên 90% các giống gà ở Việt Nam là gà ngoại nhập, giống gà nội và gà nội lai chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng đàn trên cả nước, khoảng gần 7%.

Còn theo số liệu mới nhất của Hội Chăn nuôi Việt Nam, tính đến tháng 8, số lượng gia cầm giống được nhập vào Việt Nam là gần 1 triệu con, giảm 24,8% so với cùng kỳ năm 2013, với tổng kim ngạch NK đạt 3,92 triệu USD. Giá NK trung bình khoảng 3,93 USD/con, tăng 0,91 USD/con so với cùng kỳ năm ngoái.

Nhìn chung do ảnh hưởng của thị trường gà trong nước, lượng gà giống NK vào Việt Nam giảm khoảng 24,8% so với cùng kỳ năm 2013. Lượng NK giảm chủ yếu vào tháng 6, 7 và 8. Dự báo, lượng gà giống NK sẽ tiếp tục giảm trong tương lai.

Tránh nhập khẩu ồ ạt

Tại hội thảo “Cấu trúc ngành chăn nuôi và lợi ích của người chăn nuôi nhỏ tại Việt Nam” do Liên minh Nông nghiệp tổ chức sáng nay 18-11, TS. Nguyễn Văn Giáp-Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (Bộ NN&PTNT) cho biết, khảo sát của nhóm nghiên cứu thuộc Liên minh Nông nghiệp cho thấy, nguyên nhân NK lợn giống ngày càng tăng là vì năng suất và chất lượng các giống ngoại tốt hơn hẳn so với các giống ở các cơ sở trong nước.

Một con lợn nái giống ngoại đẻ được 28 con/năm, trong khi đó con giống trong nước chỉ có 18 con/năm. Bên cạnh đó, nuôi con giống nội địa tiêu tốn nhiều thức ăn hơn, để được 1 kg thịt, lợn giống nội cần tới 2,8 kg thức ăn, trong khi giống lợn ngoại chỉ cần 2,4 kg thức ăn.

Không đạt được hiệu quả tốt như lợn, đối với gà, do công nghệ chăn nuôi chưa đồng bộ nên năng suất của các giống NK nuôi ở nước ta chỉ đạt khoảng 85 – 90% so với năng suất chuẩn của giống nhập.

Theo TS. Lê Quang Bình-Viện Nghiên cứu Xã hội kinh tế và Môi trường (iSEE), việc NK giống vật nuôi là cần thiết, tuy nhiên cần phải khai thác và sử dụng có hiệu quả các giống vật nuôi ngoại, tránh tình trạng NK giống vật nuôi kém chất lượng hoặc NK ồ ạt nhiều nguồn gen không được chọn lọc. Bên cạnh đó, cần tăng cường kiểm soát tình trạng nhậu lậu giống không rõ nguồn gốc vào thị trường nội địa.

Một số chuyên gia đánh giá, suốt thời gian qua, Nhà nước cũng đã có những chính sách phát triển giống vật nuôi trong nước và đạt được kết quả nhất định như củng cố và từng bước hiện đại hoá hệ thống nghiên cứu, sản xuất giống ở các cơ sở giống Trung ương và một số địa phương; chăn nuôi Việt Nam có được tập đoàn giống phong phú về chủng loại và cấp loại…

Tuy nhiên, các giống tốt vẫn chưa được phổ biến rộng. Mạng lưới các trạm trại vệ tinh nhân giống và cung ứng giống của các địa phương còn kém phát triển, hiệu quả của công tác quản lý chất lượng giống vật nuôi nói riêng và vật tư chăn nuôi nói chung vẫn còn nhiều bất cập… Để giảm bớt phụ thuộc nguồn giống NK, điều cần làm là sớm khắc phục những yếu kém hiện có đó.

Nhóm nghiên cứu của Liên minh nông nghiệp đề xuất, về mặt tổng thể muốn ngành chăn nuôi phát triển bền vững hơn, xây dựng chiến lược và quy hoạch chăn nuôi hoàn chỉnh cho cả nước đóng vai trò rất quan trọng. Trong đó xác định rõ được vùng địa lý, quy mô nào phù hợp, giống nào sẽ phát triển, các dịch vụ công nào cần thiết… Đặc biệt phải xác định được vị trí và quan hệ giữa chăn nuôi quy mô nhỏ và quy mô lớn.

Thanh Nguyễn

Nguồn tin: Báo Hải Quan

Tin khác

Đăng ký nhận bản tin Japfa