Thị trường thức ăn chăn nuôi 2014 và dự báo 2015


Thursday, 05 February 2015

Thị trường thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu thế giới năm 2014 biến động không đồng nhất, tăng dần trong 5 tháng đầu năm, giảm 4 tháng tiếp theo, sau đó hồi phục trở lại 3 tháng cuối năm.

 

Tính chung, giá thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu thế giới năm 2014 vẫn giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2013, do nguồn cung dồi dào. 

Ngược với xu hướng giá thế giới thì giá thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu trong nước năm 2013 đã tăng 2,3% so với cùng kỳ năm ngoái, do phải phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu và có quá nhiều phí, trong đó phí vận chuyển của Việt Nam luôn tăng cao hơn các nước trong khu vực.

I. TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI

1. Diễn biến giá thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu năm 2014

thi truong TACN 5.2

Hình minh họa

Giá thức ăn chăn nuôi (TĂCN) và nguyên liệu thế giới tháng 12/2014 tăng nhẹ so với tháng trước đó, tháng tăng thứ ba liên tiếp kể từ tháng 9/2014, do nước tiêu thụ hàng đầu thế giới – Trung Quốc – gia tăng nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm ngoái, giá thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu thế giới trung bình tháng trong năm 2014 vẫn giảm mạnh. Cụ thể, giá lúa mì trung bình năm 2014 giảm 11,8%; ngô giảm 25,4%, đậu tương giảm 11,4%, tuy nhiên giá bột cá tăng 11%, tất cả đều so với cùng kỳ năm 2013.

Giá ngô trên thị trường thế giới tháng 12/2014 tăng lên 182,52 USD/tấn trong phiên giao dịch ngày 22/12/2014, tăng 2,2% so với tháng trước đó nhưng giảm mạnh 7,6% so với cùng tháng năm ngoái. Nguyên nhân là do Bộ nông nghiệp Mỹ đã nâng mức dự kiến về sản lượng ngô thế giới niên vụ 2014-2015 lên mức cao kỷ lục 991,58 triệu tấn, tăng 1,26 triệu tấn so với dự báo tháng trước và tăng 12,56 triệu tấn so với cùng kỳ niên vụ trước, do điều kiện thời tiết thuận lợi ở khu vực vành đai trồng ngô của nước sản xuất và xuất khẩu ngô hàng đầu thế giới này.

Triển vọng sản lượng vụ thu hoạch lúa mì toàn cầu niên vụ 2014/15 sẽ đạt mức cao 722,18 triệu tấn, tăng 0,3% so với dự đoán của USDA hồi tháng 11/2014 và tăng 1,1% so với cùng kỳ niên vụ trước, do thời tiết thuận lợi hậu thuẫn cây trồng lúa mì tại Argentina và Nga. Tuy nhiên, giá lúa mì trong tháng 12/2014 vẫn tăng nhẹ, lên 247,5 USD/tấn, tăng 4,9% so với tháng trước đó nhưng giảm 7,3% so với cùng tháng năm ngoái.

Mặc dù, sản lượng đậu tương toàn cầu niên vụ 2014/15 dự kiến tăng lên mức cao kỷ lục 312,81 triệu tấn, tăng 0,75 triệu tấn so với dự báo của USDA hồi tháng 11/2014 và tăng mạnh 29,02 triệu tấn so với niên vụ trước. Do vậy, giá đậu tương trong tháng 12 đã tăng nhẹ 0,5% so với tháng trước đó song giảm mạnh 22% so với cùng tháng năm ngoái.

Trong tháng 12/2014, giá bột cá cũng giảm nhẹ xuống còn 2.202,05 USD/tấn, giảm 0,09% so với tháng 11 song tăng mạnh 41,4% so với tháng 12/2013. Nguyên nhân là do nguồn cung toàn cầu thắt chặt trong khi nhu cầu bột cá tăng cao vào những tháng cuối năm.

Đồ thị 1: Biến động giá đậu tương, ngô, lúa mì và bột cá thế giới năm 2014 (Đvt: USD/tấn)

Nguồn: Vinanet.com.vn

2. Dự báo nguồn cung và tình hình tiêu thụ thức ăn chăn nuôi & nguyên liệu năm 2015

Ngô

Dự báo, sản lượng ngô thế giới niên vụ 2014/15 tăng mạnh, lên 991,58 triệu tấn, tăng 12,56 triệu tấn so với cùng kỳ niên vụ trước, do thời tiết ở nước trồng chủ yếu được cải thiện. Dự trữ ngô cuối vụ của thế giới đạt 192,2 triệu tấn, tăng 19,36 triệu tấn so với đầu vụ. Sự gia tăng này phần lớn do nước Mỹ có lượng dự trữ tăng – nước có thời tiết thuận lợi đã hậu thuẫn khu vực vành đai trồng ngô của nước này, tăng 19,36 triệu tấn lên 50,75 triệu tấn. Quốc gia có lượng giảm không đáng kể chủ yếu là những nước nhập khẩu như Canada, Hàn Quốc … Tuy nhiên, Brazil lại trái ngược hoàn toàn với xu hướng này – nước xuất khẩu chủ yếu –  niên vụ 2014/15 nguồn dự trữ cuối kỳ của nước này dự kiến đạt 17,55 triệu tấn, giảm 0,2 triệu tấn so với đầu kỳ; tương tự Nam Phi dự kiến đạt 2,86 triệu tấn, giảm 0,48 triệu tấn.

Với điều kiện thời tiết thuận lợi, dự báo niên vụ 2014/15 sản lượng ngô Mỹ sẽ đạt 365,97 triệu tấn, trở thành nước có lượng ngô dư thừa nhiều nhất thế giới, niên vụ này sau khi trừ đi lượng tiêu thụ trong nước, nước này còn dư thừa khoảng 63,19 triệu tấn. FSU-12 giữ  vị trí thứ hai với lượng dư thừa 19,5 triệu tấn, tiếp đến là Brazil với lượng dư thừa 18,5 triệu tấn, Ukraine với lượng dư thừa 16,6 triệu tấn, Argentina với lượng dư thừa là 12,8 triệu tấn. Ngược với xu hướng của các quốc gia trên, Nhật Bản là quốc gia có lượng thiếu hụt ngô lớn nhất thế giới với 15,4 triệu tấn cho niên vụ 2014/15, tiếp đến là Mexico với 10,25 triệu tấn, Hàn Quốc với 10,02 triệu tấn, các quốc gia Đông Nam Á với 8,42 triệu tấn, Ai Cập với 8,05 triệu tấn và sau cùng là EU-27 với 3,41 triệu tấn … Hầu hết các quốc gia thiếu hụt đều phải nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu sử dụng.

Bảng 1: Dự báo cung cầu ngô thế giới năm 2015 (triệu tấn)

 

 

2014/15

Dự trữ đầu vụ

Cung

Tiêu thụ

 

Dự trữ cuối vụ

Sản lượng

Nhập khẩu

Ngành TACN

Nội địa

Xuất khẩu

Thế giới

172,84

991,58

109,8

597,12

972,21

112,34

192,2

Mỹ

31,39

365,97

0,64

136,53

302,78

44,45

50,75

Các nước

còn lại

141,45

625,62

109,16

460,59

669,43

67,89

141,45

Nước XK chủ yếu

23,21

110,5

0,84

59,2

77,5

33,7

23,34

Argentina

2,12

22

0,01

6,1

9,2

12

2,93

Brazil

17,75

75

0,8

47,5

56,5

19,5

17,55

 Nam Phi

3,34

13,5

0,03

5,6

11,8

2,2

2,86

Nước NK chủ yếu

18,38

130,24

62,8

137

190,08

3,65

17,7

Ai Cập

2,16

5,75

7,5

11,5

13,8

0,01

1,6

EU-27 

6,71

73,59

6

58

77

2,5

6,8

Nhật Bản

0,55

0

15,4

10,9

15,4

0

0,55

Mexico

2,77

23

10,9

16,5

33,25

0,5

2,92

Đông Nam á

3,8

27,68

9,2

27,9

36,1

0,64

3,95

Hàn Quốc

1,85

0,08

9,6

8

10,1

0

1,42

Nước khác

 

 

 

 

 

 

 

Canada

1,59

11,5

0,7

6,6

12

0,5

1,29

Trung Quốc

77,32

215,5

2

158

216

0,1

78,72

FSU-12

3,24

42,66

0,42

20,29

23,16

19,84

3,32

Ukraine

2,24

27

0,05

9

10,4

16,5

2,39

Nguồn: USDA

Đậu tương

Bảng 2: Dự báo cung cầu đậu tương thế giới  năm 2015 (triệu tấn)

 

2014/2015

Dự trữ đầu vụ

Cung

Tiêu thụ

Dự trữ cuối vụ

SL

NK

Nghiền ép

Nội địa

XK

Thế giới

66,58

312,81

112,77

251,87

286,07

116,22

89,87

Mỹ

2,5

107,73

0,41

48,44

51,57

47,9

11,16

Các nước khác

64,08

205,08

112,36

203,42

234,49

68,33

78,7

Nước XK chính

45,78

160,9

0,63

79,45

85,91

61,7

59,7

Argentina

29

55

0

38,05

41,15

8

34,85

 Brazil

16,53

94

0,6

37,6

40,75

46

24,38

Paraguay

0,23

8,5

0,03

3,6

3,79

4,52

0,45

Nước NK chính

15,76

14,75

100,15

96,87

114,34

0,39

15,93

Trung Quốc

14,43

11,8

74

74,5

85,9

0,3

14,03

 EU-27

0,67

1,58

12,75

12,8

13,83

0,07

1,09

Nhật Bản

0,23

0,21

2,9

1,97

3,07

0

0,27

 Mexico

0,12

0,29

3,95

4,2

4,24

0

0,12

 Nguồn: USDA

Dự báo, tổng sản lượng đậu tương thế giới niên vụ 2014/15 sẽ đạt 312,81 triệu tấn, tăng 29,02 triệu tấn so với niên vụ trước, do thời tiết dự báo sẽ được cải thiện ở cả 3 quốc gia trồng đậu tương hàng đầu thế giới Mỹ, Brazil, Argentina. Trong đó nhu cầu tiêu thụ là 286,07 triệu tấn, lượng đậu tương thế giới dư thừa khoảng 26,74 triệu tấn. Quốc gia có lượng dư thừa nhiều nhất là Mỹ với 56,16 triệu tấn, thay thế Brazil trở thành nước xuất khẩu đậu tương hàng đầu thế giới do điều kiện thời tiết thuận lợi hậu thuẫn cây trồng đậu tương, tiếp theo là Brazil với lượng dư thừa là 53,25 triệu tấn, Argentina với 13,85 triệu tấn. Ngược lại, dự báo niên vụ 2014/15 những quốc gia có lượng thiếu hụt đậu tương nhiều nhất là Trung Quốc với 74,1 triệu tấn, tăng 6,65 triệu tấn so với niên vụ trước do nước này mở rộng đàn gia súc dẫn đến nhu cầu về thức ăn chăn nuôi của nước này tăng mạnh; thứ hai là EU-27 với 12,25 triệu tấn, tiếp theo là Mexico là 3,95 triệu tấn và sau cùng là Nhật Bản với 2,86 triệu tấn, giảm 0,05 triệu tấn so với niên vụ trước. Đây là những quốc gia nằm trong top những nước có nhu cầu sử dụng đậu tương lớn đều bị thâm hụt giữa sản lượng so với nhu cầu tiêu thụ. Đặc biệt là trong những quốc gia này, sản lượng trong nước chỉ đáp ứng được 1 phần rất nhỏ trong tổng nhu cầu tiêu thụ của mình, nhu cầu tiêu thụ nội địa của Trung Quốc gấp hơn 7 lần sản lượng sản xuất được, tương tự như vậy EU gấp gần 11 lần, Mexico gấp gần 14 lần và Nhật Bản gấp hơn 14 lần. Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa của mình các quốc gia này sẽ phải nhập khẩu đậu tương trong niên vụ này, với sản lượng nhập khẩu tương ứng là 74 triệu tấn, EU-27 là 12,75 triệu tấn, Mexico nhập khẩu 3,95 triệu tấn, Nhật Bản là 2,9 triệu tấn.

Lúa mì

Bảng 3: Dự báo cung cầu lúa mì thế giới năm 2015 (triệu tấn)

2014/15

Dự trữ đầu vụ

Cung

Tiêu thụ

 

Dự trữ cuối vụ

SL

NK

Ngành TACN

Nội địa

XK

Thế giới

185,3

722,18

156,16

139,22

712,58

158,04

194,9

Mỹ

16,05

55,13

4,9

4,9

33,09

25,17

17,81

Các nước khác

169,25

667,05

151,27

134,32

679,49

132,87

177,09

Nước XK chính

28,74

220,7

5,64

64,5

147,78

75

32,29

Argentina

2,54

12

0,01

0,1

6,15

6

2,4

Australia

6,24

24

0,15

3,4

6,8

17,5

6,09

 Canada

9,8

29,3

0,48

5

10,33

22,5

6,75

EU-27

10,16

155,4

5

56

124,5

29

17,06

Nước NK chủ yếu

93,09

196,14

83,23

34,95

270,92

6,87

94,67

 Brazil

1,87

6,3

7

1

12,3

1

1,87

 Trung Quốc

60,27

126

1,7

23

124

1

62,97

Trung Đông

10,15

17,53

22,48

4,17

38,06

1,03

11,07

Bắc Phi

13,48

16,8

23,75

2,18

41,85

0,5

11,68

Pakistan

2,16

25

0,7

1,2

25,1

0,7

2,06

Đông Nam Á

3,53

0

17

2,51

16,36

0,84

3,34

Các nước khác

 

 

 

 

 

 

 

Ấn Độ

17,83

95,91

0,05

4,5

94,19

3,3

16,3

FSU-12

15,02

111,6

6,99

24,28

75,06

38,84

19,7

Nga

5,21

59

0,2

13

35

22

7,41

Kazakhstan

1,99

12,5

0,2

1,9

6,7

5,8

2,19

 Ukraine

3,67

24,5

0,05

4

12

10,3

5,92

Nguồn: USDA

Dự báo, tổng sản lượng lúa mì thế giới niên vụ 2014/15 sẽ đạt 722,18 triệu tấn, tăng mạnh 8,18 triệu tấn so với niên vụ trước, do dự báo điều kiện thời tiết thuận lợi tác động tốt đến cây trồng lúa mì mùa đông. Nhu cầu tiêu thụ toàn cầu đạt 712,58 triệu tấn, lượng lúa mì thế giới dư thừa khoảng 9,6 triệu tấn. Quốc gia có lượng dư thừa nhiều nhất là FSU với 36,54 triệu tấn, thứ hai là EU-27  với 30,9 triệu tấn, thứ ba là Nga với 24 triệu tấn, thứ tư là Mỹ với 22,04 triệu tấn, Canada với 18,97 triệu tấn, Australia với 17,2 triệu tấn, Ukraine với 12,5 triệu tấn; Argentina  với 5,85 triệu tấn, sau cùng là Kazakhstan  với 5,8 triệu tấn. Đây là những quốc gia xuất khẩu lúa mì chủ yếu trên toàn cầu.

Ngược với xu hướng trên, quốc gia có lượng lúa mì thiếu hụt nhiều nhất là Bắc Phi với 25,05 triệu tấn, thứ hai là Trung Đông với 20,53 triệu tấn, tiếp theo là các nước Đông Nam Á với 16,36 triệu tấn phụ thuộc 100% vào nhập khẩu do không sản xuất được, sau cùng là Brazil với 6 triệu tấn. Đặc biệt là trong những quốc gia này, sản lượng lúa mì trong nước chỉ đáp ứng được 1 phần rất nhỏ trong tổng nhu cầu tiêu thụ của mình. Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa của mình dự kiến các quốc gia này sẽ phải nhập khẩu lúa mì trong niên vụ 2014/15, với sản lượng nhập khẩu tương ứng là 23,75 triệu tấn; 22,48 triệu tấn; 17 triệu tấn;  và 7 triệu tấn.

Bột cá

Ước tính, tổng sản lượng bột cá Peru năm 2014 đạt 1.150.000 tấn, tăng 15% so với cùng kỳ năm ngoái. Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu bột cá hàng đầu của Peru, chiếm gần 60% thị phần trong năm 2014, Việt Nam là thị trường xuất khẩu bột cá lớn thứ 4 của Peru sau Đức, Nhật Bản.

Triển vọng giá thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu năm 2015

Dự báo, giá thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu thế giới năm 2015 sẽ tăng nhẹ, do nhu cầu chăn nuôi ở nước tiêu thụ hàng đầu thế giới – Trung Quốc – tăng mạnh, cùng với thời tiết bất lợi ảnh hưởng đến cây trồng đậu tương, ngô ở nước sản xuất và xuất khẩu hàng đầu – Mỹ.

II. TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC          

1. Biến động giá thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu năm 2014

Cùng với xu hướng tăng lên của giá thế giới, giá thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu của Việt Nam trong tháng 12/2014 tăng nhẹ so với tháng trước đó, do giá nhập khẩu một số nguyên liệu thức ăn chăn nuôi như khô đậu tương, bột cá… thị trường thế giới tăng nhẹ. Hiện tại, giá cám gạo duy trì ở mức 5.900 đ/kg, giá khô đậu tương tăng 0,7% so với tháng trước lên 14.100 đ/kg và tăng 1,4% so với tháng đầu năm và giá bột cá không thay đổi ở mức 14.000-20.000 đ/kg. Tính chung, giá TĂCN năm 2014 đã tăng 2,3% so với cùng kỳ năm 2013.

2. Thực trạng ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu năm 2014 và một số vấn đề tồn tại

Trong nhiểu năm qua, nước ta có thế mạnh trong xuất khẩu nông sản, song ngành chăn nuôi lại luôn trong tình trạng thiếu nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Ðây là một nghịch lý, khiến giá thức ăn chăn nuôi (TĂCN) trong nước liên tục biến động, gây bất lợi cho người chăn nuôi. Bởi thế, việc chủ động sản xuất TĂCN từ nguyên liệu trong nước là giải pháp hạ giá thành, nâng cao sức cạnh tranh.

Ngành thức ăn chăn nuôi nước ta luôn phải đối mặt với thách thức lớn như nguồn cung nguyên liệu sản xuất TACN trong nước thiếu hụt, phải phụ thuộc quá nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu khiến giá TACN trong nước luôn cao và bấp bênh theo giá thế giới, gây ảnh hưởng không nhỏ tới ngành chăn nuôi. Nguồn cung các loại nguyên liệu giàu năng lượng như ngô, cám, lúa mì thiếu……

Trong đó, các loại nguyên liệu giàu năng lượng như ngô, cám, lúa mì thiếu (khoảng 30 đến 40%), thức ăn giàu đạm như đỗ tương, bột xương thịt, bột cá (khoảng 70 đến 80%), riêng các loại khoáng chất, vi lượng, phụ gia thì phải nhập khẩu 100%. Bởi thế, khi thị trường TĂCN thế giới biến động về cung và cầu, ngay lập tức ảnh hưởng tới thị trường trong nước. Việc phải nhập khẩu nguyên liệu TĂCN đồng nghĩa với việc người chăn nuôi phải gánh thêm chi phí về vận chuyển, kiểm định, thuế, rủi ro khi thức ăn không đạt chuẩn.

Do đặc thù nguyên liệu của ngành chủ yếu nhập khẩu từ nước ngoài nên khi hàng về tới cảng cũng chịu sự kiểm soát ngặt nghèo của các cơ quan hải quan, thú y, bảo vệ thực vật… khiến cho các doanh nghiệp khi tính giá thành sản phẩm buộc phải tăng thêm các chi phí: lưu kho, lưu bãi… khiến sản phẩm khi đến tay người chăn nuôi đã “đội” lên. So với các nước trong khu vực, giá TĂCN ở nước ta luôn cao hơn (khoảng 15 đến 20%), dẫn đến các sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam khó cạnh tranh.

Nước ta có diện tích đất sản xuất nông nghiệp khá lớn, trong đó phần lớn diện tích dùng để trồng ngô và các loại hoa màu có thể làm nguyên liệu để sản xuất TĂCN, thế nhưng hằng năm chúng ta vẫn phải nhập khẩu, ngô, sắn, cỏ khô… cho dù số lượng thu hoạch từ ngô, sắn là rất nhiều. Nguyên nhân là vì chất lượng nguyên liệu không đạt chuẩn do quá trình thu hoạch và bảo quản của người dân chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Chưa kể tới việc người nông dân khi bán nông sản cho các công ty liên doanh chế biến TĂCN với giá rẻ để rồi khi nó thành sản phẩm lại phải mua rất đắt từ chính các công ty này. Thời gian qua, Chính phủ đã có chính sách bình ổn giá TĂCN nhưng vẫn chỉ là giải pháp mang tính “tình thế” bởi giá TĂCN luôn trong tình trạng bất ổn “tăng nhanh, giảm chậm” và người chăn nuôi luôn chịu thua thiệt.

Trong Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề ra, mục tiêu đưa chăn nuôi thành ngành sản xuất chính, chiếm tỷ trọng 42% trong cơ cấu giá trị ngành nông nghiệp. Ðể đạt được, giai đoạn 2010-2015, ngành chăn nuôi sẽ phải bảo đảm tốc độ tăng trưởng bình quân 6 đến 7%/năm. Tuy nhiên, theo nhận định của các chuyên gia, mục tiêu đó khó có thể đạt được nếu ngay từ bây giờ không kịp thời xây dựng nguồn cung cấp nguyên liệu TĂCN một cách ổn định. Ðiều đó có nghĩa, chúng ta phải tối ưu hóa được nguồn nguyên liệu trong nước bằng nhiều biện pháp linh hoạt.

Về vấn đề này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã có nhiều chủ trương như chuyển đổi 200 nghìn ha trồng lúa kém hiệu quả sang trồng ngô, đậu tương…, đồng thời thúc đẩy nghiên cứu khoa học, xem xét khía cạnh dinh dưỡng, lợi thế thị trường khi dùng thóc, gạo thay thế ngô, lúa mì. Thực tế cho thấy, đã có nhiều mô hình chăn nuôi gia trại, nông hộ ở Nghệ An, Hưng Yên sử dụng thóc, gạo làm thức ăn rất hiệu quả.

3. Tình hình nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu

Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu trong tháng 11 đạt 243 triệu USD, tăng 1,81% so với tháng trước đó và tăng 27,85% so với cùng tháng năm ngoái. Tính chung 11 tháng đầu năm 2014, Việt Nam đã chi gần 3 tỉ USD nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu, tăng 5,86% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 11 tháng đầu năm 2014, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu của Việt Nam từ một số thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh, thứ nhất là Chi lê với 16,9 triệu USD, tăng 982,9% so với cùng kỳ; đứng thứ hai là Đức với 6,3 triệu USD, tăng 103,16% so với cùng kỳ; Trung Quốc với 251 triệu USD, tăng 102,1% so với cùng kỳ, sau cùng là Nhật Bản, với 2,9 triệu USD, tăng 80,84% so với cùng kỳ.

Các thị trường chính cung cấp TĂCN và nguyên liệu cho Việt Nam trong tháng 11/2014 vẫn là Achentina, Hoa Kỳ, Italia và Trung Quốc… Trong đó, Achentina là thị trường chủ yếu Việt Nam nhập khẩu mặt hàng này với 110 triệu USD, tăng 2,53% so với tháng trước đó và tăng 92,72% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu từ nước này 11 tháng đầu năm 2014 lên hơn 1,1 tỉ USD, chiếm 39,8% tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng, tăng 23,9% so với cùng kỳ năm trước – đứng đầu về thị trường cung cấp TĂCN và nguyên liệu cho Việt Nam. Kế đến là thị trường Hoa Kỳ với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 11 là 42,8 triệu USD, tăng 81,64% so với tháng 10/2014 và tăng 13,85% so với cùng tháng năm ngoái. Tính chung 11 tháng đầu năm 2014, Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu từ thị trường này 375 triệu USD, tăng 5,03% so với cùng kỳ năm trước.

Kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu từ Achentina tăng mạnh trong 11 tháng đầu năm 2014 do nguồn nguyên liệu từ thị trường này dồi dào – thị trường TĂCN và nguyên liệu tiềm năng của Việt Nam.

Đứng thứ ba về kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu trong tháng 11/2014 là Italia với trị giá 18 triệu USD, tăng 3,86% so với tháng trước đó và tăng 184,84% so với cùng tháng năm ngoái, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu lên 203,9 triệu USD, tăng 12,66% so với cùng kỳ năm trước.

Ngoài ba thị trường kể trên, Việt Nam nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu từ các thị trường khác nữa như: Trung Quốc, Brazil, Ấn Độ và Thái Lan với kim ngạch đạt lần lượt trong 11 tháng đầu năm là 251 triệu USD; 218 triệu USD; 121 triệu USD; và 92 triệu USD …

Kim ngạch nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu tháng 11 và 11 tháng đầu năm 2014:

Thống kê của TCHQ (Đvt: nghìn USD)

 

KNNK 11T/2013

KNNK T11/2014

KNNK 11T/2014

So với T10/2014 (%)

So với T11/2013 (%)

So với 11T/2013 (%)

Tổng KN

2.815.695

243.481

2.980.657

1,8

27,9

5,9

Achentina

958.627

110.191

1.187.713

2,5

92,7

23,9

Ấn độ

305.263

7.819

121.385

15

-48,81

-60,2

Anh

4.133

97

1.524

-34,9

105,42

-63,1

Áo

2.889

322

1.453

22,7

17,39

-49,7

Bỉ

5.227

620

7.834

-13,8

3,55

49,9

Braxin

235.454

5.180

217.973

-82,8

-57,53

-7,4

Tiểu Vương quốc Ả rập Thống nhất

68.949

2.210

49.371

-53,9

-2,11

-28,4

Canada

17.529

7.407

25.598

9,861,3

71,29

46,0

Chilê

1.565

251

16.943

33,4

 

982,9

Đài Loan

45.974

3.631

65.766

-20,3

-7,54

43,1

Đức

3.114

1.069

6.326

259,6

301,40

103,2

Hà Lan

13.644

1.591

16.499

-6,2

23,33

20,9

Hàn Quốc

25.085

2.797

28.980

12,2

63,48

15,5

Hoa Kỳ

357.063

42.811

375.032

81,6

13,85

5,0

Hungary

25

 

 

 

 

-100,0

Indonesia

82.022

3.814

68.893

-28,8

-67,93

-16,0

Italia

180.977

18.088

203.888

3,9

184,84

12,7

Malaixia

23.814

1.845

20.716

-22,8

30,23

-13,0

Mêhicô

1.868

31

1.418

-31,2

 

-24,1

Nauy

386

 

 

 

-100,0

-100,0

Niu zi lân

871

 

 

 

-100,0

-100,0

Nhật Bản

1.629

135

2.946

-55,7

-1,92

80,8

Oxtrâylia

25.195

1.210

17.827

116,9

16,37

-29,2

Pháp

15.175

1.843

16.319

20,0

53,96

7,5

Philipin

35.224

1.671

16.642

20,4

-47,09

-52,8

Xingapo

13.597

1.491

13.975

-0,2

22,58

2, 8

Tây Ban Nha

22.319

771

10.684

109,7

-26,22

-52,1

Thái Lan

124.679

6.658

92.562

5,8

29,78

-25,8

Trung Quốc

124.201

12.856

251.015

29,5

23,37

102,1

4.   Dự báo thị trường thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu năm 2015

Dự báo, giá thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu trong nước năm 2015 sẽ giảm nhẹ, do nhu cầu TĂCN và nguyên liệu trong nước không tăng, cùng với đó là giá xăng giảm sẽ đẩy chi phí vận tải giảm.

Nguồn tin: Vinanet

Tin khác

Đăng ký nhận bản tin Japfa